Kỳ nhông khổng lồ Nhật Bản lần đầu tiên được Philipp Franz von Siebold
phát hiện ở đảo Dejima, Nagasaki và được đưa về Leiden (Hà Lan) vào thập niên 1820.
Qua nghiên cứu, các chuyên gia cho biết,
đây là một loài vật sống sót từ Thượng kỷ Jura, cách đây khoảng 140 triệu năm
Kỳ nhông khổng lồ Nhật Bản này có chiều dài khoảng 1,5m, nặng khoảng 20kg, chuyên sinh sống vào ban đêm và được xếp vào dạng cực quý hiếm.
Đây là loài kỳ nhông lớn thứ 2 trên thế giới,
chỉ sau kỳ nhông khổng lồ ở Trung Quốc – dài khoảng 1,8m, nặng 63,5kg.
Ít ai biết rằng, với thân hình đồ sộ, vẻ ngoại hình xấu khủng khiếp như vậy
nhưng đây là một sinh vật khá hiền lành.
Chúng chỉ sống sống hoàn toàn dưới nước,
trong các suối nước lạnh và trong, ăn côn trùng, ếch nhái, cá.
Đặc biệt hơn, không giống những loài kỳ nhông khác rụng mang sớm trong chu kỳ sống,
loài vật này chỉ ngoi đầu lên mặt nước để lấy không khí mà ít khi dám mạo hiểm bản thân chui ra khỏi mặt nước để lên bờ.
Khi bị đe dọa, kỳ nhông này sẽ tiết ra một chất đục trắng
có mùi hắc mạnh, gần giống mùi tiêu Nhật Bản
Osanshouo có đôi mắt bé tí hin cùng thị lực kém
nhưng lại sở hữu các tế bào cảm giác đặc biệt,
bao phủ trên da, trải dài từ đầu đến chân.
Những tế bào cảm giác này nhỏ, tơ như lông, cực kỳ nhạy bén
như phần lông tai trong của con người
giúp cho vật chủ có thể phát hiện con mồi và “né” kẻ thù.
Do quá trình trao đổi chất chậm nên tuổi thọ của Osanshouo khá cao,
có thể lên tới 52 năm trong điều kiện nuôi nhốt và 80 trong môi trường tự nhiên.
Cụ thể, đến mùa giao phối, kỳ nhông cái thường bơi lên mạn ngược của các dòng suối để đẻ trứng.
Kỳ nhông đực cũng bám theo để phóng tinh dịch lên 300 – 600 trứng do kỳ nhông cái đẻ ra.
Dẫu vậy, chúng vẫn chứng tỏ mình là những “người đàn ông của gia đình” khi vô cùng hung hăng bảo vệ trứng cho tới lúc trứng nở.
Quá trình từ thụ tinh đến lúc trứng nở ra thành con khoảng 45 ngày.
Mặc dù thời gian từ lúc còn trong trứng đến khi thành con non khá ngắn
nhưng kỳ nhông khổng lồ Nhật Bản đang được liệt vào danh sách loài vật bị đe dọa
bởi nạn ô nhiễm, sự mất môi trường sống và săn bắn quá mức.
Bên cạnh đó, sự mất môi trường sống – do bùn lắng đọng dày dưới đáy sông suối
và việc săn bắt quá mức cũng đẩy loài kỳ nhông này đến bờ vực bị tiêu diệt.

Nguồn: https://truthabouttoyota.com/

Xem thêm bài viết khác: https://truthabouttoyota.com/category/nong-nghiep