THỈNH CHƯ THIÊN

Samantā cakkavāḷesu, atrāgacchantu devatā;
Saddhammaṃ munirājassa, suṇantu saggamokkhadaṃ.

Dhammassavanakālo ayaṃ bhaddantā. (3 lần)

Namo tassa Bhagavato Arahato Sammāsambuddhassa. (3 lần)

Mettāsutta – Kinh Tâm Từ

1- Yass’ānubhāvato yakkhā, Neva dassenti bhīsanaṃ.
Do oai lực tâm từ, những phi nhân hung dữ, không hiện hình, mùi hôi, và âm thanh đáng sợ..
Yañhi cev’ānuyuñjanto, Rattindivam’atandito.
Thưa chư bậc Thiện trí, hành giả thường tinh tấn, tiến hành rải tâm từ, ngày đêm không ngưng nghỉ, thực hành tâm từ theo bài Kinh Tâm Từ này.

2- Sukhaṃ supati sutte ca, Pāpaṃ kiñci na passati.
Ngủ nghỉ được an lạc, không thấy mọi ác mộng, Thức dậy được an lạc.
Evamādiguṇūpetaṃ, Parittaṃ taṃ bhaṇāma he!
Có rất nhiều quả báu, (được nhiều người yêu mến, được Chư Thiên yêu mến, được Chư Thiên Hộ trì, vũ khí không tấn công được, chất độc không xâm nhập vào mình được, tâm dễ đi vào thiền định, mặt mày rất tươi tỉnh, khi chết có thể chứng đắc bậc thiền và sinh vào cõi phạm thiên), Trong bài Kinh Tâm Từ, chúng tôi tụng niệm đây!

Mettāsutta (Kinh Tâm Từ)

3- Karaṇīyam’atthakusalena, Yanta santaṃ padaṃ abhisamecca.
Thực hành việc nên làm (giới-định-tuệ), bậc Thiện Trí sáng suốt, biết cầu sự lợi ích, Niết-bàn an tịnh lạc, tâm từ làm nền tảng.

Sakko ujū ca suhujū ca, Suvaco cassa mudu anantimānī.
Bước đầu nên thực hành; 1. Sakkho: Hành giả có năng lực; 2. ujū: tính tình trung thực; 3. suhujū: đặc biệt ngay thẳng hướng đến điều tốt; 4. Suvaco: phải là người dễ dạy, dễ khuyên; 5. cassa: không lười biếng; mudu: tính nhu mì hiền lành; 6. anantimānī: không quá ngã mạn, khiêm nhường,

4- Santussako ca subharo ca, Appakicco ca sallahukavutti.
7. Santussako: người biết tri túc hài lòng; 8. subharo: người dễ nuôi, dễ sống; 9. Appakicco: người ít công việc, ít nhiệm vụ; 10. sallahukavutti: có đời sống nhẹ nhàng.

Santindriyo ca nipako ca, Appagabbho kulesva’nanugiddho,
11. Santindriyo: biết thu thúc 6 căn, giữ gìn các pháp chủ (không để tham sân si phát sinh lên); 12. nipako: có trí tuệ thông suốt; 13. Appagabbho: không thô tháo quá, thân khẩu ý thuần đức; 14. kulesva’nanugiddho: không quyến luyến gia đình,

Na ca khuddam’ācare kiñci, Yena viññū pare upavadeyyuṃ.
15. Không làm mọi điều ác mà bậc Thiện Trí chê trách. Mười lăm pháp nền tảng, của pháp hành tâm từ.

Sukhino vā khemino hontu, Sabbasattā bhavantu sukhitattā.
Khi hành giả tiến hành niệm rải tâm từ rằng: Cầu mong mọi chúng sinh, Tâm an lạc trầm tĩnh; Thân thường được an lạc, Sống bình an vô sự.

5- Ye keci pāṇabhūtatthi, Tasā vā thāvarā va’navasesā.
Tất cả chúng sinh nào, Chia thành 2 nhóm: Còn sợ và không sợ,
Dīghā vā ye va mahantā, Majjhimā rassakā aṇukathūlā.
Chia 3: Dài – trung bình – ngắn; Lớn – vừa – nhỏ; Cao – vừa – thấp tròn;…

6- Diṭṭhā vā ye va adiṭṭhā, Ye va dūre vasanti avidūre.
Thấy được và không thấy, cả thảy chúng sinh ấy, Ở gần và ở xa; không loại trừ chúng sinh nào.
Bhūtā va sambhavesī va, Sabbasattā bhavantu sukhitattā.
Đã sanh và còn sanh, sẽ sanh.. chưa rõ ràng, Cầu mong tất cả chúng sinh thân và tâm thường được hưởng an lạc.

7- Na paro paraṃ nikubbetha, Nātimaññetha katthaci na kañci.
Hành giả rải tâm từ, Cầu mong mọi chúng sinh không lừa đảo lẫn nhau; Cầu mong người này không bất mãn, oán hận người kia.
Byārosanā paṭighasaññā, Nāññamaññassa dukkhamiccheyya.
Cầu mong mọi chúng sinh không làm khổ lẫn nhau, không mong muốn khổ cho nhau. Xin cầu mong người này không khinh thường người kia.

8- Mātā yathā niyaṃ putta-māyusā ekaputtamanurakkhe.
Tâm từ, tình thương yêu, với tất cả chúng sinh ví như một người từ mẫu thương yêu đứa con một, bảo vệ đứa con mình bằng sanh mạng thế nào
Evampi sabbabhūtesu, Mānasaṃ bhāvaye aparimāṇaṃ.
Các hành giả phát triển tâm từ và rải tâm từ vô lượng đến tất cả chúng sinh cũng như thế ấy vậy.

9- Mettāñca sabbalokasmi, Mānasaṃ bhāvaye aparimāṇaṃ.
Hành giả rải tâm từ đến tam giới chúng sinh, không có giới hạn;
Uddhaṃ adho ca tiriyañca,
Hướng trên: cõi vô sắc (gồm bốn cõi phạm thiên); Hướng giữa: cõi sắc giới (gồm có mười sáu cõi); Hướng dưới: cõi dục giới (gồm mười một cõi, trời, người và ác giới);
Asambādhaṃ averam’asapattaṃ.
Đừng có phân biệt giới hạn, với tâm từ vô lượng, nguyện cho họ đừng bao giờ có sự hận thù oan trái.

10- Tiṭṭhaṃ caraṃ nisinno va, Sayāno yāvatā’ssa vitamiddho.
Hành giả đang tiến hành, đứng, đi hoặc ngồi, nằm, rải tâm từ vô lượng cho đến khi ngủ ngon,
Etaṃ satiṃ adhiṭṭheyya, Brahmam’etaṃ vihāram’idha māhu.
Tâm an trú trong thiền, có tâm từ vô lượng. Ðức Phật dạy bảo rằng: “Hành giả sống cao thượng trong Giáo Pháp”.

11- Diṭṭhiñca anupagamma, Sīlavā dassanena sampanno.
Thiền tâm từ nền tảng, giới trong sạch thanh tịnh làm nền tảng, tiếp tiến hành thiền tuệ, diệt tà kiến ngũ uẩn, thành bậc Thánh Nhập Lưu,
Kāmesu vineyya gedhaṃ, Na hi jātu’ggabbhāseyya puna reti.
Chứng đắc bậc Thánh Bất Lai; Diệt tham ái ngũ trần, chứng đắc Thánh A-ra-hán, khi tịch diệt Niết Bàn, chấm dứt khổ tái sanh.

(Mettāsuttaṃ niṭṭhitaṃ)
(Xong bài Kinh Tâm Từ)

#Mettasutta #KinhTâmTừ #TụngKinhPali #SưHộGiới

Nguồn: https://truthabouttoyota.com/

Xem thêm bài viết khác: https://truthabouttoyota.com/category/o-to-xe-may-xe-khac